Bàn Tròn Văn Học Văn học và nền kinh tế thị trường trong mười năm cuối thế kỷ…

Thiên Sầu
  • Lượt xem 446
  • Trả lời: 0
Văn học nền kinh tế thị trường trong mười năm cuối thế kỷ
Nguyễn Phượng
Khoa Ngữ Văn Đại học Sư phạm Hà Nội


ta, nền kinh tế thị trường được xác lập muộn. Tuy thế, nó đã diễn ra đúng như quy luật của bất cứ thể chế nào cần phải trải qua quá trình này. Phần khảo sát này chỉ xem xét những tác động cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường đối với hoạt động văn hóa nghệ thuật chỉ với văn hóa nghệ thuật.

Trước hết là sự xoá bỏ bao cấp đối với các sản phẩm văn hoá.

Tiếp đến là đặt các hoạt động sáng tạo vào quan hệ thị trường. Sản phẩm văn hoá nghệ thuật cũng là một hàng hoá, nó cần phải được mua – bán tuỳ theo giá trị. Điều này cũng có nghĩa là nghệ thuật được đặt đúng vào mảnh đất nuôi sống nó, tứccông chúng. Công chúng đã đang trở thành đối tác chủ yếu đồng thời là lực lượng quan trọng nhất quyết định sự tồn tại phát triển của các hoạt động văn hoá nói chung sáng tạo văn học nghệ thuật nói riêng.

Nền kinh tế thị trường, tự nó, hình thành một bối cảnh mang tính tất yếu đó là sự cạnh tranh, như người ta thường nói, hết sức khốc liệt giữa những người hoạt động văn hoá.

Có thể xảy ra, tất yếu sẽ xảy ra tình trạng người tham gia hoạt động văn hoá không từ một thủ đoạn nào để thu hút công chúng vào sản phẩm của mình, tạo một sức mua khả dĩ cho sản phẩm bằng nhiều chiêu thức như tiếp thị, quảng cáo cả gây scandal... nhằm lancer các sản phẩm văn hoá. Nhưng nền kinh tế thị trường, trên thực tế, chính là một môi trường vô cùng thuận lợi cho việc xây dựng một nền văn hoá nói chung văn học học nghệ thuật nói riêng thực sựgiá trị đủ để cho nền văn nghệ dân tộc tađủ tiềm lực năng lực gia nhập vào cộng đồng văn học nghệ thuật thế giới.

I. Bối cảnh nền kinh tế thị trường sự chi phối của nó với văn học:

1. Nền kinh tế thị trường đóng vai trò như một yếu tố chi phối xếp đặt lại các giá trị.

- Thương mại hóa – tại sao không?

Nhìn một cách lược, đời sống văn hoá đương đại có vẻ như đang nhiễu loạn càng ngày càng khó kiểm soát thị trường dường như bị coi là thủ phạm của hiện tượng đó. Đúng là có hiện tượng thương mại hoá các sản phẩm văn hoá ( sách, phim, mỹ thuật, âm nhạc...).Trên các phương tiện truyền thông, chúng ta đã được nghe những lời chỉ trích, phê phán đủ các cung bậc về cái gọi là tình trạng “ thương mại hoá” văn hoá nghệ thuật. Bất chấp những lời chỉ trích, tình trạng này chẳng những không chấm dứt mà ngược lại, có vẻ như càng ngày càng bành trướng một cách mạnh mẽ hơn. Thực tếngười ta đã chẳng làm thế nào được, khi, các nguồn tài trợ theo kiểu bao cấp đã bị cắt đi. Những người hoạt động về lĩnh vực văn hoá nói chung cũng như những người sáng tạo văn học nghệ thuật nói riêng đều phải bỏ tiền ra chỉ còn một thứ phao cứu sinh đó là hướng tới công chúng. Sản phẩm văn hoá nghệ thuật cũng như bất cứ sản phẩm nào khác, sinh ra trong nền kinh tế thị trường đếu phải chịu sự tác động khắc nghiệt của quy luật cung - cầu. Tình hình này là của tất cả những quốc gia có nền kinh tế thị trường, không riêng gì nước ta.

Thực tế là, khi tìm hiểu sâu hơn, ta sẽ thấy nền kinh tế thị trường đang dần dần uốn nắn lại tác động mạnh mẽ vào việc xác định các lộ trình mới cho sáng tạo văn học nghệ thuật. Rõ ràng, trong bối cảnh mới này, sản phẩm nào được công chúng đón nhận, hưởng ứng, tán thưởng thì sẽ tồn tại ngược lại. Cũng cần phải nói thêm cho rõ là khái niệm công chúng ở đây nhất thiết phải được nhận thức một cách đầy đủ với một quan niệm thoáng đãng, cởi mở hiện đại.

Trước đây, trong nền kinh tế tập trung – bao cấp, chúng ta dù muốn hay không, cũng đã tạo ra một nền văn học mang tính bao cấp. Mọi sáng tạo đều nhất loạt được chỉ đạo bởi tính định hướng. Kết quả là chủ nghĩa duy ý chí của giai đoạn văn học đã qua với đặc tính nhất thể hóa của nó đã tạo ra một công chúng văn học vì nó cho nó, nói cụ thể hơn, đó là một thứ công chúng “ thuần chủng”, hết sức thụ động hoàn toàn phiến diện về nhu cầu thẩm mĩ.

Giờ đây, tình hình đã rất khác. Sẽ bị loại khỏi “ cuộc chơi” những ai không chịu hiểu rằng, sáng tạo văn học nghệ thuật bây giờ là vì công chúng cho công chúng. công chúng giờ đây cũng không còn thuần nhất như trước mà đa dạng, đủ mọi tầng lớp, với nhiều “gout” thẩm mĩ hết sức khác nhau. Người sáng tạo văn học nghệ thuật liệu có thể nào cứ giữ mãi một thái độ quan liêu đối với công chúng như trước?
2. Thương mại hóa có giết chết nghệ thuật đích thực?
Câu trả lời là : không.

Điều quan trọng cần phải nhận thức ở đây là, nền kinh tế thị trường với những đặc trưng riêng của nó, đã mở ra một khung cảnh đầy tính thách thức nhưng cũng rất ngoạn mục để nhà văn có điều kiện được đối diện với một thế giới đa giá trị. Tri giác hiện đại trước thế giới ấy khiến người ta tỉnh mộng trước những bảng giá trị cũ. dù, khôngđược điều đó, không ai có thể cứ an tâm với nhận thức cũ, lối viết cũ mà tồn tại được trong nền kinh tế thị trường. Như thế, cũng có thể nói, nền kinh tế thị trường trên thực tế đóng vai trò xếp lại bảng giá trị. Bảng giá trị này đương nhiên là do những người sáng tạo văn học nghệ thuật tạo ra, nhưng nó được tạo ra trong sự tương tác sâu sắc với nhu cầu tinh thần của công chúng. Công chúng, dù có dễ dãi đến mấy, chắc cũng không sẵn sàng bỏ ra những đồng tiền kiếm được một cách khá khó khăn của mình để chỉ mua về những sản phẩm thứ cấp. , cũng như tất cả những sáng tác sinh ra trong các nền kinh tế khác, văn học nghệ thuật trong nền kinh tế thị trường cũng sẽ chấp nhận một sự sàng lọc khắt khe hơn của thời gian nữa. Thời gian một khi là quá trình tất yếu cho sự trưởng thành về nhận thức thẩm mĩ thì thời gian cũng sẽ đặt định các giá trị đúng với vị trí của nó.

II. Nhận diện một vài đặc điểm của văn học trong nền kinh tế thị trường:

Ngay cả khi nền kinh tế thị trường được xác lập ngày càng toàn diện sâu sắc thì dòng chủ lưu của nền văn học ta vẫn là một dòng văn học có định hướng, tập trung thực hiện những nhiệm vụ quan trọng mà xã hội giao phó. Điều đáng lưu ý ở đây là chính ngay trong dòng chủ lưu, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, tự nó cũng đã phải xoá bỏ những quan niệm, cách nhìn không còn phù hợp để có thể đáp ứng những nhu cầu ngày một khắt khe hơn của xã hội.
Tuy nhiên, do bối cảnh của nền kinh tế thị trường mà nền văn học đã đang nảy sinh một số xu hướng mới , theo chúng tôi đây là những xu hướng cần được quan tâm suy ngẫm. Trong tầm quan sát của mình, chúng tôi, tạm gọi tên một số xu hướng sau đây:

1. Xu hướng giải ảo, giải thiêng

Nhìn một cách lược, có thể thấy chặng đường mười năm sau chiến tranh là giai đoạn tương tranh, xung đột giữa một bênnhững yêu cầu bình thường hóa đời sống con người một bên là ý chí phát triển kinh tế bằng sự duy trì, tăng cường áp đặt bằng đượchình “ chủ nghĩa xã hội nhà nước”. Hậu quả là, một sự rạn vỡ trên nhiều bình diện khiến xã hội Việt Nam lâm vào trạng thái khủng hoảng nặng nề sâu sắc. Trong đó, một thực tế khá cay đắng bày ra trước mắt những người quan sát nghiên cứu : những giá trị cũ đã đang mất chỗ đứng ảnh hưởng, trong khi, những giá trị mới thì chưa kịp hình thành. Bức tranh kinh tế cũng như bộ mặt tinh thần của xã hội Việt Nam lúc đó cũng như những năm về sau sẽ rất u ám nếu khôngsự kiện Đại hội Đổi Mới của Đảng cộng sản ( 15/12/1986 ) với quyết sách : xóa bỏ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, mở cửa tạo điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường.

Trên thực tế, Đổi ́i là một quá trình vừa học vừa sửa và vừa ́ gắng cân bằng ổn định ́i phát triển.
Thành công lớn nhất của Đổi ́i được thể hiện rõ trong sự tăng trưởng kinh tế và biến đổi cơ cấu xã hội.

Quan trọng hơn có lẽ là một không khí thoáng hơn về xã hội và cả chính trị, tạo đà cho người dân Việt Nam tự làm chủ cuộc sống của mình, không bị trói buộc vào cơ chế bao cấp một thực tiễn kinh tế ngày càng thị trường hóa.

Về mặt con người, Đổi ́i đã làm sản sinh một thế hệ trẻ Việt Nam khác hẳn trước, năng động trong cuộc sống kinh tế, văn hóa và xã hội dù vẫn bị hệ thống giáo dục khá bảo thủ trói chân.

Điều đáng lưu ý ở đây là biết bao các giá trị vốn từng trở thành niềm tin vững chắc của công chúng trong một khoảng thời gian dài giờ đây buộc phải đứng trước những thử thách, bị lung lay dữ dội. Thậm chí, chính những giá trị đó tự thấy phải thay đổi hoặc bị đào thải vì đang cản trở sức sống của Việt Nam mà chính Đổi ́i đã ̉ đường.

Chịu sự tác động của những điều kiện chính trị - kinh tế vừa kể trên, văn học Việt Nam từ sau 1986 cũng như trong mười năm cuối thế kỷ, tự đổi mới một cách mạnh mẽ để phù hợp cũng là để đáp ứng nhu cầu của công chúng trong bối cảnh mới.

Biểu hiện trước hết là ở sự thay đổi về nhận thức quan niệm về các hệ giá trị. Cái thiêng liêng, cao cả, cái tưởng vẫn còn sức hấp dẫn nhưng không phải là đối tượng duy nhất mà người sáng tác văn học bắt buộc phải hướng tới như trước.

Điều này thực ra không có gì lạ. Đất nước trở lại đời sống hòa bình, con người, theo lẽ thông thường của quy luật, trở về với cuộc sống hàng ngày thì, lẽ cố nhiên, cái cao cả, cái tưởng sẽ dần dần nhường chỗ cho cái đời thường. Tức là có một sự thay thế dần dần từ phía văn học về mối quan tâm chính yếu của nó đối với các vấn đề quan trọng trong đời sống. Cho đến những năm cuối thế kỉ, cùng với sự thâm nhập ngày càng toàn diện của nền kinh tế thị trường, sự tác động ngày càng mạnh mẽ của quá trình hội nhập với quốc tếsự thay đổi ngày càng mạnh mẽ của nhận thức công chúng về thời đại. Trong đó, quá trình đổi thay nhận thức này trước hết diễn ra mạnh mẽ sâu sắc ở tầng lớp tinh hoa.
Chúng ta có thể thấy biểu hiện đầu tiên của nó diễn ra ngay ở các đề tài quan trọng của văn học như đề tài chiến tranh, đề tài lịch sử cùng các đề tài “ nóng” của đời sống đương đại

Cái nhìn mang tính ảo hóa theo dạng “ tata mà vẫn cứ mê tahayđường ra trận mùa này đẹp lắm” đã nhường chỗ cho cái nhìn tỉnh táo, duy thực đầy can đảm của các nhà văn về chiến tranh là cội nguồn nảy sinh sự xuất hiện của các tác phẩm gây hiệu ứng mạnh mẽ trong công chúng vào những năm đầu thập kỉ 90. Chẳng hạn, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập, Những linh hồn bị hành quyết của Ông Văn Tùng, Người đàn quỳ của Lê Văn Ba…

Ý thức ấy ở người cầm bút được thể hiện trong nỗ lực diễn đạt những sự thật từng bị che khuất bởi những chi phối của lịch sử thời cuộc. Bởi trong nền kinh tế thị trường, bùng nổ về thông tin cách mạng về thông tin sẽmột tất yếu cũng là một tất yếu, sự thật ( thậm chí cả sự thật trần trụi, đời thường ) tự nó có một sức hấp dẫn sức mạnh riêng.

Không ngẫu nhiên, thể loại hồi ký, tự truyện tiểu thuyết tự truyện lại gần như chiếm thế thượng phong trong giai đoạn này. Công chúng giành một sự quan tâm khá đặc biệt với một số tiểu thuyết tự truyện hồi ký xuất hiện trong giai đoạn này như Cát bụi chân ai ( 1992 ) Chiều chiều ( 1999 ) củaHoài, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn…

Nhiều sự kiện vấn đề lịch sử cũng được nhìn nhận lại bằng tầm nhìn đương đại.
Một số truyện ngắn từng gây xôn xao dư luận, từng là tâm điểm của nhiều cuộc tranh luận văn học như Trương Chi, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, của Nguyễn Huy Thiệp, Sự tích ngày đẹp trời của Hòa Vang…theo cách nhìn nào đó, có thể xếp vào hiện tượng giải ảo, giải thiêng trong tư duy nghệ thuật mười năm cuối thế kỉ.

Cũng cần phải nói thêm, hiện tượng giải ảo, giải thiêng trong đời sống văn học những năm cuối thế kỉ không thể chỉ phán quyết một cách giản đơn là phủ nhận các giá trị truyền thống hay phủ nhận văn học cách mạng như một số người vội vàng kết luận. Nhìn ở khía cạnh tích cực, đây là một hiện tượng cần được nghiên cứu cũng rất đáng suy ngẫm.

2. Xu hướng thế tục hóa:

Đồng hành cùng xu hướng giải ảo, giải thiêng dường nhưmột hệ quả của xu hướng trên là xu hướng thế tục hóa.
Cũng dễ hiểu là, tựa như quy luật, khi thời đại của những cứu cánh lớn trôi qua, sống với đời thường, con người trở về với những toan tính cá nhân muôn thuở. Không phải là một hiện tượng phai nhạt dần nhữngức lịch sử mà trên thực tế, cộng đồng người Việt giờ đây phải đối diện với những vấn đề quan trọng hơn cũng thực tế hơn với chính nó.

Xu hướng này sở dĩ hiện diện trong đời sống văn học, trước hết, xuất phát từ sự thay đổi quan niệm về sáng tạo. Nếu trước đây, do những chi phối của điều kiện chiến tranh những đòi hỏi cấp bách của lịch sử, văn học tự nguyện đảm nhận sứ mệnh làm vũ khí đấu tranh trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc thì giờ đây, khi cuộc sống của toàn dân trở lại bình thường trước nhu cầu muôn mặt của nó, lẽ cố nhiên, quan niệm về vai trò sứ mệnh của văn chương cũng dần dần thay đổi. Những khái niệm trước đây dùng để chỉ công việc sáng tạo như “ viết văn”, “ làm thơ”- trong nội hàm đã chứa đựng một ý nghĩa nghiêm túc về thái độ đối với văn học trên góc độ nào đó còn ngầm toát lên một tình cảm ngưỡng mộ hành vi đó trong tính cách thiêng liêng, cao cả hóa nó.
Điều nói trên thực ra cũng dễ hiểu.

Nhưng rồi thực tế mới với nhiều điều chưa biết, chưa từng xảy ra trong kinh nghiệm sống của cả một cộng đồng ồ ạt hiện diện. Bao trầm tích trong đời sống của một dân tộc từng đã phải kiềm nén trong gần ba mươi năm chiến tranh giờ đây, do điều kiện sống thanh bình trở lại do điều kiện đặc biệt của nền kinh tế thị trường đã “ trổ lá, đơm hoatrở lại. Hàng loạt thay đổi lớn trong cách sống, cách tư duy của con người hậu chiến. Lẽ cố nhiên, trong muôn vàn đổi thay đó, quan niệm về văn chương sáng tạo văn chương cũng thay đổi. Văn chương đến gần với thực tế hơn quan niệm về công việc sáng tạo nghệ thuật nói chung về văn chương nói riêng cũng trở nên thoáng đãng giản dị hơn.

Giờ đây, đã có người táo bạo gọi sáng tác văn chương nhưmộtcuộc chơi”, một “ trò chơi”. Thậm chí, có người còn đi xa hơn, gọi là “ một trò chơi vô tăm tích” để chỉ tính chất vô vụ lợi của công việc sáng tác văn chương. Quan niệm này đã mở đường cho những ứng xử tiếp theo mang tính chất dân chủ hiện đại – coi sáng tác văn chương cũng là một công việc không những bình thường như biết bao công việc khác trên đời mà có khi còn ít nghiêm túc hơn. Cách giải này của chúng tôi nhằm cắt nghĩa vì sao một số người cầm bút trong giới trẻ lại, có vẻ như một sự nổi loạn, tuyên bố : “ chúng tôi không làm thơ”. Không “ làm thơ” thì họ làm gì? Họ “ nghịch thơ”, “ chơi thơ”, “ nhại thơ”, thậm chí “ phá thơ”…

ta đã thấy không chỉ trong thơ mà cả trong văn xuôi cùng một số thể loại khác sự du nhập ồ ạt những yếu tố rất đời thường, thông tục thậm chí cả thô tục nữa. Sự cảnh báo nghiêm khắc của một số nhà phê bình trên các phương tiện truyền thông dường như chẳng có một tác động nào. Trái lại, sự gia tăng liều lượng của những giá trị nhất thời, của sex, các yếu tố mang màu sắc cinique, grotesque…trong văn xuôi; sự hiện diện quá tải hiện tượng “ thơ rác”, “ thơ dơ”, thơ “ bụi”… trong thơ như thể một thách thức!

Thơ được gì, mất gì nhìn chung, văn chương được mất gì trong sự thay đổi từ quan niệm cho đến “ sáng tạo” như thế?

Nếu cứ một một mực trung thành với quan niệm sáng tác như trước đây thì có thể nói rằng diện mạo văn học Việt Nam trong nền kinh tế thị trường đang có những biến thiên ghê gớm do những quy luật quái đản nào đó mà chúng ta khó chưa thể kiểm soát được. Nhưng nếu bình tĩnh suy xét thì mọi chuyện cũng giản dị thôi. Văn chương, sau bao thế kỉ được/bị cao cả hóa về sứ mệnh vai trò giờ đây, trong bối cảnh mới, nó bỗng hòa nhập nhanh chóng có thể dâng hiến cái phẩm chất tiêu thụ, tiêu dùng vốn có của nó. Tức là chính văn chương phải thay đổi cho phù hợp với những nhu cầu của đời sống thế tục. Nhưng đời sống thế tục trong cơ chế thị trường vốn là một thực thể luôn luôn biến đổi với một tốc độ có thể nói là chóng mặt thì liệu văn chương có lẽ nào cứ khư khư ôm mộng đuổi theo những giá trị vĩnh viễn? Sự vồ vập đón chào, tán thưởng ( vì hiếu , tò mò ) cùng sự lãng quên nhanh chóng ngay sau đó của công chúng đối với một số tác phẩm ăn khách, thời thượng nào đó cho thấy : văn chương trong nền kinh tế thị trường cùng chịu chung một thái độ đối xử khá bình đẳng ngang hàng với các sản phẩm vật chất cũng như tinh thần khác trong sống hiện đại. Như “ mốt” quần áo, điện thoại di động, xe máy, xe hơi. Không hơn.

Tuy nhiên, một môi trường luôn luôn biến động, thay đổi là một môi trường tự nó mang tính sàng lọc, lựa chọn. Đây sẽmột mảnh đất tốt cho những khai phá, tìm tòi, mở rộng phạm vi biên độ cho các ý tưởng mới cùng sự đào sâu vào hiện thực. Đồng thời, một luật chơi mới sẽ được hình thành : các giá thị sẽ tồn tại bình đẳng trong một thế giới đa giá trị. luôn luôn bị thay thế bởi những giá trị mới. Trong một một bối cảnh như thế, sự tồn tại của các tác phẩm văn chương đích thực sẽcông việc của thời gian sự lắng đọng.

Cùng với những thay đổi về nội dung là sự đổi thay rõ rệt về cách thể hiện. Có thể nhận thấy xu hướng nổi trội trong phần lớn các cây bút ở tất cả các thế hệ trong những năm chuẩn bị khép lại thế kỉ là một sự khước từ lặng lẽ những quan niệm cũ về diễn đạt, mạnh dạn từ bỏ lối viết nặng về trang trí, chuộng uyển ngữ, sính tụng ca bị chi phối bởi cung cách thưởng thức thực tại đượchồng một thời để hướng tới một tinh thần dân chủ hóa, đáp ứng nhu cầu hiện đại của công chúng. Biểu hiện quan trọng đầu tiên của xu hướng đổi mới nói trên về diễn đạt là :

a/ chấp nhận toàn bộ ngôn ngữ đời thường, thông tục,

b/ tiến tới một thái độ táo bạo đầy can đảm trong việc sử dụng ngôn ngữ thể nghiệm,

c/ phóng túng trong việc dùng những hệ lời pha tạp, những tiếng lóng, tiếng mới, những tiếng không ít người chưa quen nghe, thậm chí cả những hệ lời bị kết án là thô kệch, tục tĩu, sản phẩm của, như người ta nói, một thứ “ văn hóa vỉa hè”.

Tuy nhiên, xu hướng nói trên, không ngẫu nhiên lại tập trungmột số cây bút tài năng. Đó là Tô Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Bùi Hoàng Vị, Nguyễn Bình Phương… trong văn xuôi; Dư Thị Hoàn, Bùi Chí Vinh, Nguyễn Quốc Chánh, Đồng Đức Bốn, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh…trong thơ. Chưa kể, xu hướng này được tiếp tục đẩy lên thành những đợt sóng tạo nên những hiệu ứng xã hội lớn trong một số cây bút trẻ tuổi trong mấy năm đầu của thế kỷ XXI mà chúng tôi sẽ có dịp đề cập ở một bài khác.

Cũng chưa hẳn là không, đọc các sáng tác của một số cây bút trong danh sách đã nêu trên gợi cho người ta nghĩ tới các tác phẩm của de Sade sau thời Cách mạng Pháp 1789, ngôn ngữ xã hội đen trong các văn phẩm của Céline Genêt trong thế kỉ XX cũng ở Pháp, Uyt – man với tập Lá cỏ ở Mỹ, hiện tượng Vương Sóc các phong trào thơTrung Quốc sau Cách mạng Văn hóa…

Hiện tượng trên trong bối cảnh của Việt Nam, thực ra không có gì quá khó hiểu. Nền kinh tế thị trường, tự nó, áp đặt những định chế của nó vào đời sống xã hội khiến con người ta, không trừ bất cứ ai, phải thay đổi cách nghĩ, lối làm việc, cách thể hiện quan điểm , trong rất nhiều những đổi thay do nền kinh tế thị trường đem lại, thế tục hóa là một xu hướng không thể khước từ. Nó phản chiếu cái quy luậthình của những vận động ngầm trong đời sống xã hội : sự hình thành một xã hội công dân trong đó, văn học từ đây sẽ đảm nhận cái sứ mệnh mới : thiết lập một khu vực bình đẳng, tự do – là sân chơi chung của mọi tầng lớp công chúng, từ người bình dân đến bậc đại trí thức, không loại trừ cả tầng lớp doanh nhân chính khách hiện đại.

thế nào, mặc lòng, nền kinh tế thị trường với tính chất tàn bạo đầy quyến rũ của nó, đã bất chấp mọi thái độ dè dặt, hoài nghi hay hào hứng đón nhận từ phía các giai tầng xã hội, cứ từng bước đặt định khẳng định những giá trị mang tính muôn thuở của đời sống thế tục nhưkhông thể có cách lựa chọn nào khác. Để rồi đến lượt văn học, như đã nói ở trên, sẽ chấp nhận nỗ lực diễn đạt về cái bối cảnh vừa thô kệch vừa ngoạn mục do nó tạo ra, cũng không thể có cách lựa chọn nào khác, trong một mối quan hệ mang tính chất định mệnh.

3. Xu hướng đi tìm cái mới, cái độc đáo, cái độc sáng theo tinh thần hiện đại hoặc hậu hiện đại.

Trong nền kinh tế thị trường, người cầm bút cũng như tất cả những ai tham gia hoạt động văn hoá sớm muộn đều phải hiểu rằng chỉ có thể tạo ra quyền lực cho tên tuổi của chính mình bằng cách dành nhiều năng lực cho công việc sáng tạo. Tuy nhiên, đã qua rồi cái thời người nghệ coi công việc sáng tạo như một “ nhiệm vụ cách mạng”, “ một công tác cách mạng” chỉ cần hoàn thành nhiệm vụ của một người chiến trên mặt trận văn hóa là hoàn thành sứ mệnh của người cầm bút. Cũng đang trở nên lỗi thời cái quan niệm người nghệ sáng tác theo bản năng, ăn nhờ vào năng lực trời cho. Tính năng động của nền kinh tế thị trường kích thích xã hội vận động với một gia tốc mới, kích thích sự phát triển đa dạng. Tình hình này kéo theo hàng loạt sự thay đổi nhanh chóng trong nhận thức thẩm mĩ của công chúng. Thực tế cho thấy là ít có sản phẩm văn hóa nghệ thuật nào chiếm vị trí không thể thay thế trong nhu cầu tinh thần liên tục thay đổi của công chúng. Đây đó đã có không ít lời phàn nàn về sự “ chững lại của tiểu thuyết”, sự “ xuống cấpcủa thơ, sựlạc hậu” “ thiếu chuyên nghiệp” của phê bình! Người ta không giấu diếm những tiếng thở dài đối với tình trạng chung của văn học nghệ thuật đương đại. Có người than vãn về khung cảnh đáng buồn, cạn kiệt nội lực của văn học. Lại có người cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thị trường, khó mà mong chờsự xuất hiện trở lại của một Xuân Diệu hay Huy Cận hoặc một Hàn Mặc Tử hay Nguyễn Bính...trong thơ, một Vũ Trọng Phụng hoặc Nam Cao...trong văn xuôi một Hoài Thanh, hay Vũ Ngọc Phan trong khảo cứu phê bình...như trước đây.

Đành rằng, những hoài nghi âu lo trên không phải là không có cơ sở. Nhưng cũng phải khách quan mà thừa nhận rằng, bất cứ nền văn học nào cũng vậy thôi, đâu phải lúc nào cũng “ tiến lên” theo mong muốn của những người sốt ruột quan sát nó? nếu để ý, ta sẽ thấy cái cảm giác về một nền văn học đang “ rối như nồi canh hẹ” chỉ là bề ngoài. Thực chất, nền văn học ta vẫn đang vận hành theo đúng quy luật của nó. Trước 1986 từ 1990 trở đi trong đời sống xã hội nói chung đời sống văn học nói riêng, khó mà có được một bối cảnh hoàn toàn mới mẻ, đáng làm cho ta phải ngạc nhiên về những lộ trình mới mà nền văn học đang mở ra. Chẳng hạn sự tiếp cận thu hẹp khoảng cách với thế giới về quan niệm, tư tưởng; mở rộng đào sâu khám khá nhiều chiều kích mới của hiện thực; hình thành ý thức mới, hiện đại trong tư duy xã hội tư duy nghệ thuật; tìm kiếm những hình thức nghệ thuật mới; phát triển nghiên cứu giảng dạy văn học trên tinh thần hướng tới những giá trị đích thực; làm phong phú sinh hoạt văn chương, cởi mở thông thoáng trong cơ chế xuất bản…

Một bối cảnh như chúng tôi đã miêu tả chính là cơ hội hiếm có cũng là thách thức hiếm có cho những người cầm bút có tài năng đam mê sáng tạo thực sự. Tuy nhiên, sáng tạo trong một bối cảnh như thế còn có nghĩa là phải từng bước khước từ hoặc khước từ triệt để những ngáng trở của cái mà Roland Barthes gọi là “ sự tồn dư ngoan cố của lối viết cũ” để bứt lên, vươn về hiện đại đương đại. Viết, giờ đây cũng đồng nghĩa với việc sáng tạo ra cái độc đáo, cái độc sáng để một mặt, không lạc hậu với những thành quả nghệ thuật của các nền văn học tiên tiến hơncông chúng đang được thụ hưởng qua các sản phẩm dịch , mặt khác, để tồn tại trong sự chọn lựa vừa vừa phức tạp vừa khắt khe của chính công chúng đó, một đối tượng đã hoàn toàn khác trước, được sinh ra từ nền kinh tế thị trường đã đành, thêm nữa, vốn không mấy mặn mà với các sản phẩm vật chất cũng như tinh thần mang tính nội địa.

Những nỗ lực âm thầm của các cây bút như Trần Trung Chính ( trú ), Nguyễn Viện ( Thời của những tiên tri giả ), Tạ Duy Anh ( Đi tìm nhân vật ), Phan Thị Vàng Anh ( Khi người ta trẻ ), Nguyễn Thị Thu Huệ ( Hậu thiên đường ), Bùi Hoàng Vị ( Tầng trệt thiên đường ), Nguyễn Bình Phương ( Trí nhớ suy tàn, Người đi vắng)… trong văn xuôi; của Thi Hoàng ( Gọi nhau qua vách núi ) của Nguyễn Quang Thiều ( Sự mất ngủ của lửa, Những người đàn gánh nước sông ), của Trần Anh Thái ( Đổ bóng xuống mặt trời ) của Nguyễn Quốc Chánh ( Khí hậu đồ vật ), Mai Văn Phấn ( Gọi xanh ), Phan Huyền Thư ( Nằm nghiêng ), của Vi Thuỳ Linh( Khát ) cùng nhiều thể nghiệm thơ của Trần Tiến Dũng, Văn Cầm Hải, Nguyễn Hữu Hồng Minhtrong thơ bên cạnh các cây bút đàn anh không chấp nhận sự xơ cứng trong sáng tạo luôn luôn muốn làm mới mình nhưHoài, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Bùi Ngọc Tấn, Châu Diên… trong văn xuôi Hoàng Cầm, Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng, Nguyễn Duy, Thanh Thảo… trong thơ đang làm thay đổi diện mạo nền văn học Việt Nam trong chặng đường những năm cuối thế kỉ theo hướng hiện đại hoá , đây đó, đã xuất hiện manh nha cả những thể nghiệm hậu hiện đại.

Thực tế là lúc đầu, những sáng tác kể trên đã gây một hiệu ứng lớn trong dư luận. Thái độ của công chúng, đúng như nhận xét của Hoàng Hưng là : “ diễn ra theo quy luật : từ phản bác, có khi quyết liệt, gay gắt đến dần dần chấp nhận cuối cùng là có cả sự cổ vũ tuy còn dè dặt, thăm dò bằng cả hai cách : trực tiếp hoặc gián tiếp”.

Cũng khó mà phủ nhận được rằng, trong một thập kỉ trước khi giã từ thế kỉ XX về mặt gia tốc, nền văn học ta chưa tạo được những đột biến lớn với những bước tiến dài ngoạn mục như mong đợi nhưng nó đã trưởng thành lên rất nhiều trong một cuộc chơi mới đơn giản hơn về luật lệ nhưng khắt khe hơn về luật chơi.

Vậy thì, hãy can đảm phó thác vận mệnh văn học nghệ thuật cho cái luật chơi ấy. Văn học nghệ thuật là một sinh thể, nó tất yếu phải tự điều chỉnh để có thể tồn tại. Các nền văn học khác, trong những nền kinh tế thị trường khác đã tồn tại cũng đã bảo chứng cho sự tồn tại đó bằng nhiều tác phẩm thực sựgiá trị từ trước tới nay trong đời sống văn chương nhân loại, chắc chắn nền văn học ta trong nền kinh tế thị trường cũng sẽ có số phận tương tự.

Tuy nhiên, trước khi kết thúc, vẫn cần nói lại một điều tuy không mới nhưng cần thiết : Kinh tế thị trường, ở bất cứ đâu, chỉ có thể mở ra một không gian sòng phẳng hơn chứ chưa hẳn đã mở ra một không gian trong sạch hơn cho sáng tác phê bình văn học. Văn học, trước sau vẫn tự nó phải đảm bảo sự tồn tại chính đáng của chính mình bằng sự hóa giải các yêu cầu ngày càng phức tạp khe khắt hơn của đời sống của chính nội tại nền văn học.
 
Top Bottom